Gần đây, trên biểu niêm yết tỷ giá trực tuyến của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) có điểm khác biệt, dù nó không là mẫu số chung cho cả thị trường.

Chênh lệch giữa giá bán ra – mua vào USD của Vietcombank doãng ra 100 VND, thay vì gần như cố định một cách quen thuộc suốt nhiều năm (trong điều kiện bình thường) chỉ 80 VND.

Trong các đợt biến động tỷ giá trước đây, khi ngân hàng doãng khoảng cách giữa giá bán ra với mua vào thường phản ánh dự phòng rủi ro giá xuống trong ngắn hạn, hoặc họ không có nhu cầu phải đẩy mạnh mua ngoại tệ với giá cao.

Còn hiện nay, trước khi có xu hướng hạ nhiệt trong tương lai hay không, tỷ giá USD/VND vẫn đang phải sống chung với nhiều yếu tố tác động. Nhưng điểm đáng chú ý hơn, dường như đến nay tâm lý thị trường cũng đã quen dần với những biến động đó.

Thực tế hai tuần trở lại đây, thị trường thế giới biến động rất mạnh, tỷ giá USD/VND vẫn ổn định; tâm lý thị trường không có biểu hiện nóng sốt như thường thấy trước đây.

Rất mạnh, thể hiện rõ ở các điểm nhạy cảm mà thời gian qua những phân tích về tỷ giá USD/VND thường soi chiếu vào: diễn biến giá đồng USD, đồng Nhân dân tệ, lợi suất trái phiếu Mỹ, kế hoạch tăng lãi suất của FED…

Tháng 6/2018, chỉ số USD-Index đang khá ổn định khoản 93-94 điểm nhảy vọt lên trên 96 điểm. Diễn biến này gây “hoảng hốt” nhất định trong dòng chảy thông tin kinh tế hàng ngày, mà tỷ giá USD/VND cũng nhanh chóng nhấp nhổm.

Tương tự, cặp tỷ giá USD/CNY đang ổn định khoảng 6,3-6,4 điểm đoạn đó, rồi nhảy vọt lên 6,7-6,8 điểm, kết quả của đà lao dốc rất mạnh của đồng Nhân dân tệ, mà đó cũng là điểm khởi đầu của cao trào cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung.

Với Việt Nam, cụ thể với tỷ giá USD/VND, diễn biến giá đồng USD và đặc biệt sự lao dốc của Nhân dân tệ ám ảnh những năm gần đây, và thể hiện rõ tác động (cả về mặt tâm lý thị trường) ở quãng từ tháng 6 nói trên (bên cạnh tác động của các bước tăng lãi suất của FED, hay lợi suất trái phiếu Mỹ vượt mốc 3%, rồi vượt 3,2%…).

Thế nhưng, như trên, dường như tâm lý thị trường tại Việt Nam cũng đã định hình và làm quen với một mặt bằng mới. Hai tuần qua, những yếu tố trên biến động rất mạnh, nhưng tỷ giá USD/VND lại ổn định (ở tầm cao).

Cụ thể, hai tuần qua, USD-Index liên tục biến động mạnh, theo hướng tăng lên, từ mức hơn 94 điểm vượt 96,6 điểm; lợi suất trái phiếu Mỹ kỳ hạn 10 năm có thời điểm vượt trên 3,2% rồi hạ nhiệt nhanh sau đó; đặc biệt đồng Nhân dân tệ vừa có tuần giảm giá rất mạnh so với USD, tuần qua điểm rơi kỷ lục từng chạm tới 6,96…

Còn tỷ giá USD/VND vẫn quen thuộc ở mốc bán ra quanh 23.390 VND trên biểu niêm yết các ngân hàng thương mại, thậm chí gần như không biến động trong tuần qua. Nhưng như vậy không có nghĩa tỷ giá USD/VND đã trơ lỳ với ngoại cảnh.

Trước nhiều biến động lớn của các yếu tố bên ngoài như trên, quan sát tỷ giá USD/VND trên thị trường liên ngân hàng trung tuần tháng 10 đến nay dễ thấy: giá USD giao dịch giữa các thành viên đã ngang bằng với giá bán ra tham khảo biểu niêm yết Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước. Điều đó có nghĩa, giá USD trên liên ngân hàng đã chạm đến điểm cần can thiệp.

Thực tế vừa qua Ngân hàng Nhà nước có đợt bán ra để ổn định. Theo đó, sự ổn định của tỷ giá USD/VND, trong bối cảnh có nhiều biến động lớn nói trên, là có sự can thiệp của nhà điều hành.

Nhìn từ tháng 6/2018, thời điểm tỷ giá USD/VND bắt đầu tăng lên và biến động, đã hai đợt Ngân hàng Nhà nước bán ra can thiệp. Dòng chảy này có những khía cạnh được nhìn nhận.

Thứ nhất, dòng chảy ngoại tệ tại Việt Nam gắn với dự trữ ngoại hối quốc gia là hai chiều, có mua vào và có bán ra.

Ở khía cạnh này, Việt Nam có can thiệp và giữ ổn định tỷ giá, chứ không phá giá mạnh – điều được chú ý trong chủ nghĩa bảo hộ của Mỹ nổi lên hiện nay; việc phá giá mạnh nội tệ thường hỗ trợ và kích thích xuất khẩu, trong khi Việt Nam đang xuất siêu mạnh và lớn vào Mỹ.

Thứ hai, hoạt động bán ra đó là “có vay, có trả”, với lượng hút ròng rất lớn ngoại tệ vào dự trữ ngoại hối hai năm qua.

Một tính toán tương đối và mang tính chất tham khảo cho thấy, cán cân tổng thể của Việt Nam ước tính thặng dư hai năm gần đây thấp hơn nhiều so với tổng lượng ngoại tệ Ngân hàng Nhà nước mua ròng cùng kỳ so sánh. Điều đó cho thấy một lượng lớn ngoại tệ đã chuyển hóa trong dân cư, từ vay mượn.

Theo đó, điểm liên quan được chú ý là tín dụng ngoại tệ. Doanh nghiệp vay ngoại tệ, bán lại lấy VND để làm vốn sản xuất kinh doanh, nguồn ngoại tệ chuyển đổi này góp phần vào lượng mua ròng trước đây.

Theo thời gian, các kỳ đáo hạn, cầu ngoại tệ trả nợ tác động đến cân đối cung – cầu trên thị trường. Cân đối này gắn với tín dụng ngoại tệ, dồn đẩy hơn với rủi ro tỷ giá bộc lộ từ giữa năm đến nay. Thực tế, tín dụng ngoại tệ đang có xu hướng tăng trưởng âm tại nhiều ngân hàng thương mại.

Như vậy, chuyển động của tín dụng ngoại tệ có mối liên hệ với tỷ giá USD/VND, cân đối cung – cầu trên thị trường. Ngân hàng Nhà nước đã có định hướng giảm thiểu tác động của mối quan hệ này, theo hướng thu hẹp dần tín dụng ngoại tệ.

Từ dăm năm trước, chính sách thu hẹp và hạn chế dần tín dụng ngoại tệ đã đặt ra. Hàng năm, Ngân hàng Nhà nước lại có xem xét để ra một thông tư mới thay thế cho chính sách này, giới hạn thực thi trong từng năm.

Năm nay chỉ còn lại hai tháng. Dự kiến Ngân hàng Nhà nước cũng sẽ sớm có định hướng về chính sách tín dụng ngoại tệ, để doanh nghiệp chủ động nắm bắt, trước khi cơ chế kết thúc theo thông tư gần nhất đang áp dụng.

Nguồn: vneconomy.vn

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here

Website này sử dụng Akismet để hạn chế spam. Tìm hiểu bình luận của bạn được duyệt như thế nào.