Phóng viên báo Tin tức đã phỏng vấn ông Đinh Quang Trung, Trưởng Ban Kinh doanh than, TKV xoay quanh câu chuyện cung ứng than cho các nhà máy nhiệt điện, đảm bảo an ninh năng lượng trong năm 2019 và các năm tiếp theo.

Chú thích ảnh
Ông Đinh Quang Trung, Trưởng Ban Kinh doanh than, Tập đoàn Than – Khoáng sản Việt Nam

Thưa ông, thời gian qua, tình trạng một số nhà máy nhiệt điện bị thiếu than phải sản xuất cầm chừng khiến nhiều người lo ngại khả năng thiếu điện sẽ xảy ra trong năm tới. Ông có ý kiến gì về vấn đề này?

Than đóng vai trò quan trọng đối với các ngành công nghiệp, đặc biệt là sản xuất điện. Việc thiếu nguồn than cho các nhà máy nhiệt điện là một thực tế, đây là thách thức lớn đối với an ninh năng lượng quốc gia.

Nhiệt điện than hiện chiếm khoảng 39% tổng nguồn cung năng lượng của thế giới và đến năm 2030 con số này sẽ tăng thêm 1,5% nữa. Hiện trong cơ cấu điện của Việt Nam thì nhiệt điện than cũng chiếm khoảng 40%.

Đến năm 2030, theo quy hoạch, sản lượng nhiệt điện than chiếm khoảng 50%. Một số nước trong khu vực như Trung Quốc, Australia, Ấn Độ… nhiệt điện than cũng chiếm tỷ lệ trên 40% . Như vậy, trong vòng 15 – 20 năm nữa, vai trò của than trong sản xuất điện của Việt Nam vẫn rất quan trọng .

Thiếu than cho các nhà máy điện là vấn đề đã được lường trước từ lâu. Hiện có 2 đơn vị cung cấp nguồn than chính trong nước là TKV (chiếm khoảng 85 – 87%) và Tổng Công ty Đông Bắc. Ngoài ra, có một đơn vị của nước ngoài.

Với lượng sản xuất hiện nay đạt 40 – 41 triệu tấn/năm, trong khi nhu cầu lên đến trên 50 triệu tấn cho các nhà máy nhiệt điện thời gian tới, thì rõ ràng là việc đáp ứng than antraxit (có chất bốc thấp và nhiệt năng cao) đảm bảo cho các nhà máy điện trong nước là không khả thi. Nguy cơ thiếu than là hiện hữu.

Hiện nay, than chủ yếu tập trung tại mỏ than Đông Bắc với trữ lượng khoảng 48,9 tỉ tấn than antraxit. Nhu cầu than cho điện tăng với tốc độ rất nhanh. Năm 2020, theo quy hoạch cần khoảng 60 triệu tấn than, năm 2025 cần 90 triệu tấn than và năm 2030 lên tới hơn 120 triệu tấn than.

Trong kế hoạch 2017 – 2030, Việt Nam phải nhập khẩu khoảng 70 triệu tấn than bitum hoặc á bitum. Đây không thuần túy là vấn đề thương mại mà mục tiêu là để đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia.

Vậy tình hình cung cấp than của TKV hiện nay như thế nào để đáp ứng nhu cầu này, thưa ông?

Nhu cầu sử dụng điện năm nay đã tăng đột biến hơn 20% so với năm 2017, cần khoảng 54 triệu tấn than. TKV đã nỗ lực tổ chức cung cấp than cho các hợp đồng điện, đảm bảo cung cấp trên 90%, có hợp đồng cung cấp trên 100% hợp đồng đã kí kết.

Nhưng do nhu cầu của các nhà máy muốn có thêm than để dự trữ, nên TKV đã điều chỉnh kế hoạch đáp ứng nhu cầu sản xuất của nhà máy điện.

Giai đoạn 2015 – 2017 thị trường than thế giới ảm đạm, giá than giảm sâu, duy trì mức thấp trong thời gian dài. Điều này dẫn đến tồn kho cao của TKV và than Đông Bắc. Năm 2018, thị trường hoàn toàn thay đổi. Nhu cầu than trong nước tăng đột biến, đặc biệt là than cho sản xuất điện. Hiện TKV phải huy động hết than tồn kho cho sản xuất điện.

11 tháng đầu năm nay, Việt Nam đã phải nhập khẩu trên 18 triệu tấn than. Cuối năm 2018, tồn kho của TKV giảm đáng kể, gần như không còn nguồn để chuyển sang 2019.

Vì vậy, TKV đã phải làm việc với EVN, Tập đoàn Dầu khí (PVN) và các đơn vị khác để cân đối nguồn than cho sản xuất điện từ lượng than sản xuất thực tế và nhiều giải pháp khác.

Chú thích ảnh
Khai thác than trong nước không đáp ứng đủ nhu cầu cho điện, TKV sẽ nhập khẩu để đáp ứng phần thiếu hụt.

Tại sao 2 tập đoàn lớn là TKV và EVN không có kế hoạch sớm, lường trước nguy cơ tăng trưởng sản lượng điện để dự trữ than ngay từ đầu năm?

Vấn đề này phải hỏi Cục Điều tiết điện lực hoặc EVN. Kế hoạch do EVN xây dựng, TKV đảm bảo cung cấp theo hợp đồng đã ký kết với EVN.

Theo quy định của hợp đồng thì có thể cung ứng cộng, trừ trong 10%. Khi nhu cầu than cho điện tăng thì chúng tôi phải đáp ứng ở mức tối thiểu là 90%. Hiện có nhà máy đã đáp ứng 100% như nhiệt điện Quảng Ninh. Cái chính là nhiều nhà máy có nhu cầu lấy thêm than để tồn kho, dự trữ.

Kế hoạch cho năm 2019, dự kiến nhu cầu tăng lên, chúng tôi đang làm việc với các nhà máy để nắm nhu cầu cụ thể.

Việc cân đối giữa khả năng khai thác của TKV với nhu cầu than tăng đột biến như thế nào?

Chắc chắn than trong nước không thể đủ cho sản xuất điện, hiện nay chúng tôi đã phải nhập khẩu than và có kế hoạch pha trộn, chúng tôi đã trao đổi với EVN về vấn đề đó. Năm 2019, chúng tôi sẽ nhập khẩu khoảng 4 triệu tấn than để pha trộn.

Nhập khẩu thì giá than sẽ theo thị trường, cũng như giá xăng dầu. Hiện nay, xu hướng giá thế giới đang tăng, các chỉ số giá như giá than nhiệt của Úc tăng 102 – 103 USD/tấn.

Nguồn: baotintuc.vn

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here

Website này sử dụng Akismet để hạn chế spam. Tìm hiểu bình luận của bạn được duyệt như thế nào.